Tin tức– Sự kiện
20/02/2018 13:59 20/02/2018 13:59 270
Sức Xuân trong những người Cộng sản (phần 2)
Năm 1940, sau khi bị bắt và giam vào Nhà tù Hỏa Lò, đồng chí Trần Huy Liệu đã bị đưa lên Nhà tù Sơn La. Trên đường đi, đến Phương Lâm (thuộc tỉnh Hòa Bình), anh em tù chính trị được đồng bào đón tiếp rất nồng hậu. Đồng chí Trần Huy Liệu xúc động đã làm mấy vần thơ: 
“Hữu tình thay! Cảnh Phương Lâm
Gặp nhau vừa mới một lần đã quen
Ô kìa! Cô gái sông Đen
Non cao rừng thẳm con thuyền đợi ai?”
Bước vào mùa xuân, những ngày giáp Tết Nguyên đán, hoa đào nở rộ trên sườn đồi. Đồng chí Trần Huy Liệu nhớ lại những ngày còn làm việc ở Báo Đời Nay (tòa soạn nằm trên phố Hàng Lược). Hàng năm vào những ngày Tết đến, người dân đem cành đào đến chợ hoa Hàng Lược bán, khi đó con phố tựa như một rừng đào. Nhớ về những ngày đó, ông bồi hồi làm những câu thơ: 
“Năm ngoái ngày này chốn cố đô
Hoa đào đỏ ối bên sông Tô
Với ta, hớn hở đào khoe sắc
Ngang dọc rừng đào, ta tự do
Năm nay nơi đất đỏ rừng xanh
Không hẹn mà ta lại gặp mình
Đào nhỉ! phải chăng ta khác trước?
Còn đào thêm tuổi lại thêm xanh
Thì thầm ta sẽ nhủ: đào ơi!
Sương nắng bao phen chẳng lạt mùi
Giữa chốn bụi hồng tuy lận đận
Lòng đào ta vẫn đỏ không phai”
                                                (Hỏi đào -Trần Huy Liệu)
 
 
Chợ hoa Tết, phố Hàng Lược, Hà Nội
 
Vào dịp Tết năm ấy, Trần Huy Liệu còn cùng với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Xuân Thủy họp bàn tổ chức Tết trong Nhà tù Sơn La và phân công người làm báo “Suối reo”. Người viết bài, người trình bày, viết kịch bản, làm câu đối... Không khí trong nhà tù bỗng rộn ràng hẳn lên để đón mừng năm mới với niềm lạc quan, tin tưởng, ấm cúng. Những người tù chính trị còn cắt tóc cho nhau, cùng nhau trang hoàng phòng giam. Sáng mồng Một Tết, các chiến sĩ vừa đón Xuân vừa kể chuyện, vừa bình phẩm đôi câu đối dán trước cửa trại chính, có nội dung: 
“Hẹn với non sông đưa mới lại
Mở toang cửa ngục đón xuân vào”
Và một câu đối treo ở nhà ăn, rất ý nghĩa: 
“Xuân hồng thu một khoảnh
Tình thắm gửi năm châu”
 
Đồng chí Trần Huy Liệu
 
Sau khi xem vở kịch tự biên tự diễn của các bạn tù có tiêu đề: “Bên đường dừng bước”, đồng chí Trần Huy Liệu có một bài thơ “Vịnh Tết” đăng ở báo “Suối reo” như sau: 
“Cái Tết năm nay lại Tết tù
Tiệc tùng hát xướng tết lu bù
Nhị tuồng réo rắt mê Sao Đỏ 
Cửa ngục hằm hè mặc Cút-xô 
Õng ẹo Bầu Long đầm đít vịt
Thẹn thò Xuân Thủy ả đầu Thu
Cẳng giò Ba Phúc tha hồ chén
Rượu lá Chiềng Lề mặc sức tu
Góp Tết riêng ta vô tích sự
Rửa nồi thêm nhớ mẹ thằng cu”.
Ngoài bài “Vịnh Tết”, Trần Huy Liệu còn có nhiều bài “thơ xuân” khác phản ánh thực trạng những ngày Tết ở Nhà tù Sơn La, trong đó có bài “Tết Âm lịch 1940”. Bài thơ như sau: 
“Côn Đảo, Sài thành mấy Tết qua
Tết này ăn Tết ở Sơn La
Dạ dày điểm tí mùi cơm tẻ
Mặt bủng tô thêm chén rượu khà
Chơi Tết với bao thằng mất Tết
Chung nhà tinh những đứa xa nhà
Chúc mừng năm mới: Năm mau hết
Có đái thì đừng đái máu ra”.
Lời chúc năm mới làm  mọi người thấy xót xa bởi cảnh tù đày quá khắc nghiệt. Mong chờ của người tù là năm mau hết, bởi ngoài kia phong trào cách mạng đang lên, mà những người tù cộng sản lại phải “chôn chân” ở chốn rừng thiêng, nước độc này. Độc đến nỗi cứ người nào phải vào chốn này y như người đó bị mắc phải căn bệnh sốt rét. Lời chúc đầu năm của họ là lời chúc “đừng đái máu ra” - bởi người nào bị sốt rét đến độ cao thì thường đi đái ra máu, nếu không cầm được có thể chết rất nhanh...
 
 
Nhà tù Sơn La
 
Tết Tân Tỵ (1941) lại đến, từ biên giới Việt-Trung, Bác Hồ về Cao Bằng. Tin vui này chưa đến với các chiến sĩ ở Nhà tù Sơn La, thế nhưng như hiểu được có một luồng không khí mới đang tràn về, nên không khí Tết ở Nhà tù Sơn La tràn đầy một niềm lạc quan, tươi vui. Những câu đối Tết ở nhà tù lúc này đã phản ánh được sự đoàn kết, vui vẻ và tin tưởng đó. Hay nhất là câu đối: 
“Tối ba mươi nợ cũ phong trần, song sắt nhìn soi trang lịch sử
Sáng Mồng Một mở màn xã hội, lửa lòng chói lọi pháo duy tân”
Cuối năm 1941, thực dân Pháp và phát xít Nhật câu kết truy lùng những người cộng sản đang hoạt động bí mật, bắt đày lên Sơn La, trong đó có đồng chí Đào Duy Dếnh (Đào Phan) Bí thư Thành ủy Hà Nội. Đồng chí đã bí mật thông báo cho anh em tù nhân ở Sơn La biết Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước. Thế rồi, Tết Nhâm Ngọ (1942) vừa đến. Một đôi câu đối to rộng nền đỏ, chữ đẹp được trình bày trước cổng chính nhà giam. Đôi câu đối đã thể hiện được không khí ở nhà tù khi những người tù cộng sản nhận được nhiều tin vui mới; đồng thời tỏ ý tin tưởng rằng, sắp tới sẽ có một biến động đầy sức xuân mới trong khí thế sục sôi của phong trào cách mạng. Đôi câu đối như sau: 
“Khói lửa dập tàn, ngày mới đậm đà hương vị mới
Máu tim sôi sục, xuân chung tô điểm nước non chung”
Sang Tết Quí Mùi (1943), không khí cách mạng sục sôi ở bên ngoài đã dội vào các “banh” trong nhà tù. Tết này, tù nhân chính trị tổ chức khá rôm rả: Thi làm câu đối dán ở bếp, dán ở ngục thất, tổ chức đấu cờ tướng, tổ tôm điếm v.v... Câu đối dán ở bếp của ông Mậu Chi (tức Vũ Viết Mậu) được giải nhất: 
“Khói lửa cũng cá mềm, vững bền dạ sắt lòng son, sang năm mới có nhiều canh cải
Bắc Nam cùng mắm sốt, khăng khít da vàng máu đỏ, đón xuân rồi còn lắm ninh xương”
 
 
Khu bếp, Nhà tù Sơn La
 
Cái hay của câu đối này là không thể dán ở đâu ngoài cửa nhà bếp, mà phải là bếp của nhà tù. Cái hay của câu đối không chỉ là ở sự đối nhau, mà câu đối có cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vừa dùng tiếng phổ thông “lồng ghép” vào tiếng Pháp, vừa dùng tiếng Việt gốc Hán để chuyển nghĩa... Có thể nói Tết này, mọi chỗ vui chơi giải trí: bàn cờ tướng, hội tổ tôm điếm, các cửa “banh”, nhà ăn, cổng trại giam, đâu đâu cũng có câu đối. Nhưng có một chỗ ít ai nghĩ đến, đó là nhà vệ sinh. Không biết ai đã có “sáng kiến” bí mật làm câu đối hồi đêm. Sáng dậy, anh em đi cầu đọc được, ai cũng đều thấy bái phục bởi tác giả dùng chữ rất chuẩn và rất hóm hỉnh. Chuyện sinh lý tiêu hóa mà lại bao hàm ý nghĩa khát khao giải phóng của quần chúng cách mạng. Câu đối như sau: 
“Nợ cũ tương đi, quần chúng đợi chờ cờ giải phóng
Bầu Xuân ôm nhẹ, can trường tiêu tán nỗi đau thương”
Không khí đó đã thôi thúc các chiến sĩ cách mạng ở khắp các nhà tù tìm cách tổ chức vượt ngục. Và đó chính là những nhân tố không thể thiếu trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945.
                                                            Nguyễn Khánh Hồng - Tổng hợp và biên soạn
* Tài liệu tham khảo: “Thơ và câu đối Tết trong tù” của Nguyễn Thị Y

Chia sẻ: